Hai cha con nhà thơ Lê Anh Xuân cùng là cán bộ đi B, con hy sinh cha lại lên đường

Đó chính là trường hợp của hai cha con Ca Văn Thỉnh - Ca Lê Hiến (tức nhà thơ Lê Anh Xuân). Con đi B, hy sinh năm 1968, tới năm 1975, cha lại lên đường vào Nam làm nhiệm vụ khi đã 73 tuổi.

Tại trưng bày những tài liệu và kỷ vật của cán bộ đi B ở Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước (12 Đào Tấn, Hà Nội), người xem bất ngờ và xúc động khi bắt gặp hai hồ sơ đi B của hai người dòng họ Ca, chính là hai cha con Ca Văn Thỉnh, Ca Lê Hiến.

Ca Lê Hiến: Quyết tâm của tôi là được về miền Nam, về lại quê hương tôi

Bộ hồ sơ của Anh hùng, liệt sĩ Ca Lê Hiến gồm 61 trang, trong đó có chứng minh thư, lý lịch cán bộ, lý lịch sinh viên, các quyết định qua các thời kỳ và một số giấy tờ khác.

Tuy chỉ chứa những thông tin cơ bản, ngắn gọn nhưng người đọc có thể dễ dàng cảm nhận một gia đình trí thức đi theo cách mạng, có nhiều đóng góp lớn, và đặc biệt là một Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến) mang khát vọng rất lớn phụng sự Tổ quốc ở những mặt trận gian khổ và nóng bỏng nhất, được trở về chiến đấu cùng quân dân miền Nam.

Theo sơ yếu lý lịch do Ca Lê Hiến khai vào cuối năm 1964: anh sinh ngày 5-6-1940 tại thị xã Bến Tre, nguyên quán ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (cũ). Gia đình thuộc thành phần tiểu tư sản cách mạng.

Cha anh là Ca Văn Thỉnh, một nhà giáo, hoạt động cách mạng, có nhiều đóng góp và giữ những chức vụ quan trọng: Ủy viên Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Đại lý Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Chủ nhiệm Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, Vụ trưởng Vụ Á - Phi, Bộ Ngoại giao, Tổng lãnh sự Indonesia, Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội Trung ương.

Mẹ là Lê Thị Tài, Đoàn trưởng Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Bến Tre, Cán bộ Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ, Cán bộ Văn phòng Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, Ủy viên Ban Chấp hành Liên hiệp Phụ nữ Trung ương.

Ca Lê Hiến có 4 anh chị và 1 người em. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cả gia đình đều thoát ly và tham gia công tác trong các cơ quan kháng chiến ở Nam Bộ.

Tháng 11-1954, Ca Lê Hiến có mặt trong đoàn tập kết ra Bắc, rồi theo học Trường học sinh Miền Nam, cho tới năm 1959 thì vào học tại khoa sử - Trường đại học Tổng hợp Hà Nội.

Tốt nghiệp loại ưu, anh được giữ làm giảng viên Đại học Tổng hợp Hà Nội, đảm nhận giảng dạy bộ môn Lịch sử Thế giới cổ đại tại khoa Sử của trường.

Nặng lòng nhớ thương miền Nam nên mặc dù được cử đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô, năm 1964, nhưng Ca Lê Hiến đã một mực từ chối, quyết tâm trở về Nam chiến đấu.

Trong tờ thứ 25 của bộ hồ sơ Ca Lê Hiến, anh viết: "Nguyện vọng và cũng là quyết tâm của tôi là được về Nam Bộ tham gia kháng chiến cùng bà con quê hương trong ấy.

Hiện nay chuyên môn của tôi là giảng dạy môn Lịch sử thế giới cổ đại ở Trường Đại học Tổng hợp nhưng về miền Nam tôi có thể dạy các môn khoa học xã hội cả Văn, Sử...

Ngoài chuyên môn ra, tôi có khả năng tham gia công tác báo chí hoặc sáng tác thơ. Ngoài công tác giáo dục, tôi rất muốn được tham gia công tác về văn học nghệ thuật ở miền Nam, tôi có thể đi bất cứ nơi nào Đảng cần đến. Nguyện vọng và quyết tâm của tôi là được về miền Nam, về lại quê hương tôi"

Một chuyện cảm động khác về Ca Lê Hiến, trong Lý lịch Cán bộ, phần khai về gia đình, Ca Lê Hiến còn ghi rõ: " Tôi có vợ chưa cưới tên là Bùi Xuân Lan hiện đang học năm thứ ba Học viện Kinh tài Thượng Hải (Trung Quốc).

Bùi Xuân Lan con gia đình liệt sĩ quê ở Cần Thơ, có anh ruột là nhà văn Bùi Đức Ái (nhà văn Anh Đức - PV), hiện đang công tác ở trong Nam. Cả hai chúng tôi đều quyết tâm đi về Nam".

Quyết tâm về với miền Nam khói lửa là vậy, nhưng Ca Lê Hiến đang được cử đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô, ba mẹ lại đang công tác ở nước ngoài, nên nguyện vọng của anh chưa được giải quyết.

Vậy là anh cả của Ca Lê Hiến - anh Ca Lê Dân, phải thay mặt ba má đang ở nước ngoài, viết một lá thư bày tỏ sự ủng hộ của gia đình với quyết tâm đi B của anh.

Hồ sơ đi B của Ca Lê Hiến còn lưu lá thư đề ngày 19-8-1964 của anh trai Ca Lê Dân, lúc đó đang công tác tại Nhà máy cơ khí Hà Nội.

Thư viết: "Ba má, gia đình tôi đều biết tin Hiến sắp đi công tác và đều vui vẻ tán thành, khuyến khích Hiến làm tròn nhiệm vụ.

Gia đình chúng tôi: ba, má, em gái tôi và tôi đều là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Chúng tôi có một nguyện vọng tha thiết là nhân dịp này tổ chức Đảng nơi em tôi công tác sẽ hết sức giúp đỡ thử thách em tôi, để em tôi sớm được xứng đáng gia nhập hàng ngũ của Đảng".

Sau nhiều nỗ lực và quyết tâm, ngày 16-9-1964, Ca Lê Hiến nhận được Quyết định điều động về Ủy ban Thống nhất Trung ương để lên đường về Nam công tác và chiến đấu.

Ngày 22-12-1964, anh lên đường đi B với cái tên mới là Lê Lan Xuân, ghép từ tên của mình và vợ chưa cưới. Sau này vào chiến trường Ca Lê Hiến lấy bút danh là Lê Anh Xuân, làm việc tại Ban Tuyên huấn Trung ương Cục Miền Nam, sau đó là Hội Văn nghệ Giải phóng Miền Nam.

Anh đã viết những bài thơ hay nhất của mình về miền Nam như: Tiếng gà gáy, Nhớ mưa quê hương, Trở về quê nội… đặc biệt là bài Dáng đứng Việt Nam viết trước khi anh hy sinh không lâu.

Về bút danh Lê Anh Xuân, theo phỏng đoán của nhà cách mạng lão thành Nguyễn Long Trảo - anh rể của Ca Lê Hiến, cái tên có lẽ là chữ lót của tên 3 người: Lê của Lê Hiến, Anh của nhà văn Anh Đức (anh ruột của Xuân Lan và là người đã nâng bước Lê Anh Xuân trên con đường văn học nghệ thuật từ những ngày đầu), và Xuân là của Xuân Lan.

Ngày 24-5-1968, Ca Lê Hiến hy sinh khi xuống chiến trường tham gia đợt II cuộc Tổng tiến công Mậu Thân.

Anh đã được trao tặng Huân chương Giải phóng hạng Nhất, Bằng tổ quốc ghi công và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (dù anh thuộc khối dân sự, như trường hợp Đặng Thùy Trâm).

Con ngã xuống, cha lại lên đường vào Nam

Trong phòng trưng bày tại Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, gần bên hồ sơ đi B của Ca Lê Hiến là hồ sơ của Ca Văn Thỉnh, chính là ba của Ca Lê Hiến.

Sau khi con trai hy sinh, tháng 5-1975, ông Ca Văn Thỉnh, khi đó đã 73 tuổi, cũng lên đường vào Nam công tác.

Khi còn trên đất Bắc, giáo sư Ca Văn Thỉnh đã nghỉ hưu (tại Thư viện Khoa học Xã hội Trung ương), nhưng đất nước thống nhất, Trung ương yêu cầu ông nhận nhiệm vụ để chung tay xây dựng thành phố. Ông sẵn sàng lên đường.

Tại thành phố mang tên Bác vừa bước qua chiến tranh, ông tiếp tục giữ chức Viện trưởng đầu tiên Viện Khoa học xã hội tại TP.HCM (nay là Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam).

Năm 1977 ông làm Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đến năm 1980 mới nghỉ hưu.

Ông được xem là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho công tác nghiên cứu văn hóa Nam Bộ, đặc biệt là văn học dân gian Nam Bộ.

Qua việc nghiên cứu văn học dân gian, Ca Văn Thỉnh bước đầu cho người đọc thấy được mối quan hệ giữa văn hóa, văn học Nam Bộ với Bắc Bộ; đồng thời, ông cũng chỉ ra được nét đặc trưng trong tính cách của người Nam Bộ là tính hướng thiện, giàu tình nghĩa, yêu chuộng sự thẳng ngay và yêu lẽ công bằng.

Ông còn có nhiều nghiên cứu về văn học viết Nam Bộ, thơ văn yêu nước Nam Bộ, nghiên cứu về lịch sử văn học và giáo dục ở Nam Bộ…

Với những đóng góp đó, tên ông đã được đặt cho một trường học, một con đường ở Bến Tre và một con đường ở Tân Bình (TP.HCM).

Sau 30-4-1975 vẫn còn hàng ngàn người đi B

Theo thống kê từ danh mục hồ sơ cán bộ đi B của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, sau khi đất nước vừa thống nhất, vào nửa cuối năm 1975 đến nửa đầu năm 1976 vẫn có rất nhiều cán bộ tiếp tục đi B chi viện sức người xây dựng miền Nam vừa bước qua chiến tranh.

Trong đó, tính cả năm 1975 có tới 11.301 trường hợp đi B, ông Ca Văn Thỉnh là một trong số đó. Tới năm 1976 vẫn còn 6 trường hợp đi B.

=>> Xổ Số VNZ66 – Thử Vận May Để Đón Lộc Trời Trao Ngay Hôm Nay


Liên hệ

Hỗ trợ khách hàng 24/7 mọi lúc mọi nơi

Email

Điện thoại

hotro@vuiloc.com

0901234567

© 2025. All rights reserved.